Biểu giá điện 2 thành phần: Pmax và sự khác biệt với điện thoại bàn
Mục Lục
Tìm hiểu biểu giá điện 2 thành phần của EVN: giá công suất, giá điện năng, vai trò Pmax và điểm khác biệt so với điện thoại bàn. Cập nhật lộ trình áp dụng.
Từ đầu năm 2026, EVN sẽ bắt đầu thí điểm biểu giá điện 2 thành phần – cơ chế được kỳ vọng sẽ thay thế cho cách tính tiền điện theo 05 bậc thang hiện nay.
Theo đó, Bộ Công Thương chủ trương: Giao EVN chủ công xây dựng, tính toán và đề xuất giá bán lẻ và triển khai thực hiện lần lượt 04 giai đoạn sau:
- Từ năm 2025 – giữa 2026: Thu thập dữ liệu và mô phỏng cho 02 nhóm khách hàng mua/bán điện dư năng lượng tái tạo [trong đó có điện mặt trời] và sử dụng điện lớn – qua đó phân tích, điều chỉnh biểu giá điện 2 thành phần sao cho phù hợp.
- Tháng 1.2026 – 6.2026: Thí điểm trên giấy và truyền thông nhằm hướng dẫn giúp khách hàng hiểu rõ về cơ chế mới.
- Tháng 7.2026 – 7.2027: Thử nghiệm chính thức. Khách hàng được lựa chọn sẽ thanh toán tiền điện theo biểu giá mới. Nhà chức trách sẽ điều chỉnh cấu trúc biểu giá thông qua mức độ thay đổi phụ tải, hành vi sử dụng điện và phản ứng của khách hàng.
- Từ tháng 8.2027. Tổng kết và mở rộng áp dụng.
Điểm mới quan trọng nhất của Biểu giá điện 2 thành phần? – Là nằm ở việc tách hóa đơn điện thành hai phần độc lập:
- Giá công suất (phí cố định): Chi phí để duy trì khả năng cung cấp điện tối đa cho khách hàng.
- Giá điện năng (phí biến đổi): Chi phí dựa trên lượng điện thực tế tiêu thụ (kWh).
Để dễ hình dung, cơ chế mới này được nhiều chuyên gia ví tương tự như giá Thuê bao và giá Cước gọi của điện thoại cố định. Hay còn gọi là điện thoại bàn.
Đôi nét về điện thoại cố định
- Điện thoại cố định (PSTN – Public Switched Telephone Network) là loại điện thoại có dây, kết nối với mạng viễn thông quốc gia thông qua đường cáp xoắn đôi.
- Khi người gọi bấm số, tín hiệu điện thoại (giọng nói) sẽ đi qua tổng đài – rồi qua một bước trung gian, gọi là quá trình định tuyến – trước khi đến người nhận.
- Tại Việt Nam, trước năm 1995, điện thoại bàn thuộc hàng hiếm, chỉ có ở các cơ quan nhà nước. Trải qua giai đoạn bùng nổ (1995 – 2005), rồi giảm nhanh (2005 – 2015), chục năm trở lại đây, nó gần như biến mất trong dân dụng, chỉ còn ở một số đơn vị cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hay hệ thống hạ tầng.
Điện thoại bàn so với cơ chế giá điện 2 thành phần thì…
| Điện thoại bàn | Biểu giá điện 2 thành phần |
| Có phí thuê bao cố định hàng tháng | Có giá công suất (Pmax) hàng tháng |
| Có phí cước gọi theo mỗi phút sử dụng | Có giá điện năng theo kWh tiêu thụ |
| Phải trả phí duy trì hạ tầng tổng đài | Phải trả phí duy trì khả năng đáp ứng của lưới điện |
| Không dùng vẫn phải trả phí cố định | Không dùng nhưng nếu Pmax cao thì vẫn phải trả |
Bảng so sánh: Cước điện thoại bàn vs Biểu giá điện 2 thành phần
Trước khi đi vào so sánh, SUNEMIT xin nêu lại cách tính biểu giá điện mới như sau: Tổng tiền điện = Giá công suất x Pmax + Giá điện năng x Sản lượng điện.
Dù cấu trúc biểu giá chưa ban hành chính thức, song từ tháng 10.2025, EVN đã bắt đầu thí điểm mô phỏng trên giấy cơ chế này với 7.000 khách hàng sử dụng điện bình quân 200.000 kWh/tháng trở lên.
Dựa trên số liệu của “bản nháp” đầu tiên này, bạn có thể nắm được một cách tổng quan về biểu giá điện 2 thành phần qua sự so sánh với Cước điện thoại bàn như sau:
| Tiêu chí | Điện thoại bàn (cố định – PSTN) | Biểu giá điện 2 thành phần (EVN – thử nghiệm) |
| Cơ chế tính tiền | 2 phần: thuê bao cố định + cước gọi | 2 phần: giá công suất (cố định) + giá điện năng (biến đổi) |
| Phần cố định phải trả hàng tháng | Phí thuê bao 20.000 – 27.000 đ/tháng (dù không gọi vẫn phải trả) | Giá công suất: ~209.459 – 286.153 đ/kW/tháng tùy cấp điện áp |
| Mục đích của phần cố định | Bảo trì dây cáp, tổng đài, vận hành mạng PSTN | Duy trì hạ tầng lưới điện, công suất sẵn sàng, khả năng đáp ứng phụ tải |
| Phần biến đổi (tính theo mức dùng) | Cước gọi theo phút/block | Giá điện năng (kWh) theo giờ |
| Khung giờ – mức phí biến đổi | Không chia giờ, chỉ chia nội mạng/liên tỉnh/quốc tế | Thấp điểm: 843–904 đ/kWh \Bình thường: 1.253–1.332 đ/kWh \Cao điểm: 2.162–2.251 đ/kWh |
| Cách xác định phần cố định/tháng | Cố định hoàn toàn, không phụ thuộc mức độ sử dụng | Dựa vào Pmax – công suất cực đại mà người dùng “kéo” trong tháng (30 phút lớn nhất) |
| Ý nghĩa của phần biến đổi | Gọi ít → tiền thấp; gọi nhiều → tiền cao | Dùng điện giờ thấp điểm → tiết kiệm lớn; dùng giờ cao điểm → giá cao |
| Hành vi người dùng bị ảnh hưởng | Tránh gọi xa, gọi nhiều để giảm cước | Tránh dùng cùng lúc quá nhiều thiết bị (để giảm Pmax) + dịch chuyển sang giờ thấp điểm |
| Đối tượng áp dụng | Hộ gia đình, DN (thời trước) | Sẽ áp dụng rộng rãi từ 2027, thí điểm nhóm tiêu thụ lớn từ 2026 |
| Mức linh hoạt | Thấp – biểu phí giống nhau gần như toàn quốc | Cao – giá theo giờ, theo cấp điện áp, theo hành vi sử dụng |
| Mục tiêu của cơ chế | Thu hồi chi phí hạ tầng PSTN | Công bằng chi phí × giảm tải lưới × hạn chế bù chéo × thúc đẩy tiết kiệm điện |
Tóm lại, điện thoại bàn và biểu giá điện 2 thành phần giống:
- Thuê bao = Giá công suất (cố định). Phải trả để duy trì hạ tầng dù dùng ít hay nhiều.
- Cước gọi = Giá điện năng (kWh). Dùng nhiều trả nhiều, dùng vào “chi phí cao điểm” thì đắt hơn.
Điểm khác biệt quan trọng nhất là điện có thêm yếu tố Pmax (công suất cực đại) – mức tiêu thụ điện cao nhất trong tháng, được đo bằng trung bình trượt 30 phút.
- Nếu trong bất kỳ 30 phút nào bạn bật nhiều thiết bị nặng cùng lúc (máy lạnh + bếp điện + bình nóng lạnh + sấy quần áo…), hệ thống sẽ ghi nhận đó là điểm đỉnh công suất.
- Giá công suất bạn trả phụ thuộc vào điểm đỉnh này, không phụ thuộc vào tổng sản lượng điện.
Khi biểu giá điện 2 thành phần được áp dụng rộng rãi, ngoài áp dụng “chiến lược” cũ là tránh bật nhiều thiết bị cùng lúc, thì bạn có thể tính giảm chi phí công suất bằng cách cân nhắc lắp đặt Hệ thống điện mặt trời lai ghép (Hybrid) – một giải pháp được báo chí, chuyên gia khuyến khích sử dụng – của SUNEMIT.
Thông tin liên hệ:
- 168/1 Hào Nam, P. Ô Chợ Dừa, Q. Đống Đa, TP. Hà Nội
- Email: [email protected]
- Tel: 0946.868.498 – 0943.968.848
